Hiển thị các bài đăng có nhãn ngan hang. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ngan hang. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2012

Ngân hàng Habubank - Hướng dẫn quy trình kiểm toán hệ thống công nghệ thông tin tại NHNN

Ngân hàng Habubank

Mặc dù đã gặp không ít sóng gió, nhưng sau khi sát nhập mọi khó khăn của habubank sẽ được giải quyết.
sáp nhập với ngân hàng khác được cho là tốt hơn. Trước đó, ngay khi công khai các tài liệu về phương án và đề án sáp nhập với SHB, HĐQT của ngân hàng Habubank khẳng định đây là một quyết định được cân nhắc một cách cẩn trọng trên cơ sở đảm bảo tối đa quyền lợi cho các cổ đông, cán bộ nhân viên trong điều kiện hiện nay của ngân hàng. Việc sáp nhập HBB vào SHB là việc chuyển toàn bộ trách nhiệm và nghĩa vụ của HBB với các khách hàng, đối tác, nhân viên cho SHB kể từ ngày nhận sáp nhập. Quá trình này, được sự kiểm soát và hỗ trợ chặt chẽ của NHNN các cấp để đảm bảo quá trình diễn ra thành công, không ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền, khách hàng và các bên liên quan. 

Song, tại sao lại chọn SHB và năng lực tài chính của nhà băng này đến đâu lại là câu hỏi được nhiều cổ đông của Habubank đặt ra. Có ý kiến cho rằng, SHB phải là một nhà băng có tài chính thực sự khỏe mới có thể gánh vác được ngân hàng Habubank cũng như đảm bảo sức khỏe, hiệu quả của ngân hàng sau sáp nhập. Việc sáp nhập theo đó cũng không thể tiến hành vội vàng, ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông. Bên cạnh dấu hỏi về năng lực tài chính của SHB, có ý kiến còn cho rằng, nếu được chọn, tại sao Habubank không chọn những định chế tài chính có năng lực hơn SHB... Thực tế thì ngay trong dự thảo đề án sáp nhập với SHB, HĐQT của ngân hàng Habubank cũng nhận thấy không ít các điểm yếu của đối tác sáp nhập. Phân tích về SHB, Habubank nhìn thấy một nhà băng có quy mô hoạt động chưa lớn, chưa có bề dày hoạt động và cơ cấu quản trị doanh nghiệp cũng chưa bắt kịp với tốc độ phát triển của ngân hàng. Bên cạnh đó, cơ cấu bảng cân đối kế toán của SHB vẫn tập trung nhiều vào hoạt động tín dụng và chi phí hoạt động cao so với tổng nguồn thu của ngân hàng.
Dù có nhiều thắc mắc của cổ đông, ĐHCĐ của Habubank cũng đi đến phần biểu quyết và kết quả cuối cùng cho thấy, có đến 85,21% trên tổng số phiếu biểu quyết đồng ý thông qua phương án sáp nhập ngân hàng Habubank vào SHB kèm theo đề án sáp nhập, hợp đồng sáp nhập và điều lệ ngân hàng sau sáp nhập. Như vậy về mặt thủ tục, thương vụ sáp nhập hai ngân hàng cơ bản hoàn tất nửa chặng đường đầu tiên, về phía Habubank. Phía bên kia - SHB, chặng đường còn lại phụ thuộc vào kết quả tại ĐHCĐ sẽ được tổ chức vào ngày 5.5 tới đây. Có thông tin cho rằng, nửa còn lại dường như sẽ dễ dàng hơn.

Ngày 07/8/2012, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành văn bản số 4918/QyĐ-NHNN quy định về quy trình kiểm toán hoạt động quản lý, sử dụng hệ thống công nghệ thông tin (CNTT) tại các đơn vị NHNN.
Theo đó, mục đích kiểm toán là đánh giá việc chấp hành các quy định của Nhà nước và NHNN về quản lý, sử dụng hệ thống CNTT tại các đơn vị NHNN; đánh giá tính hợp lý, hiệu quả của việc thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ đối với việc quản lý, sử dụng hệ thống CNTT.

Phát hiện, phân tích các rủi ro, đánh giá các biện pháp kiểm soát rủi ro đối với hệ thống CNTT; đánh giá mức độ an toàn bảo mật, hiệu quả của việc quản lý, sử dụng CNTT tại các đơn vị.

Đồng thời, kiến nghị với Thống đốc NHNN và các đơn vị liên quan bổ sung, sửa đổi các quy định chưa phù hợp nhằm tăng cường các biện pháp quản lý rủi ro, nâng cao hiệu quả của hệ thống CNTT tại các đơn vị.

Kiểm toán hoạt động quản lý, sử dụng hệ thống CNTT tại các đơn vị NHNN được thực hiện theo các nội dung: Kiểm toán việc trang bị hệ thống CNTT; Kiểm toán việc bảo đảm an toàn vật lý của hệ thống CNTT; Kiểm toán việc bảo trì hệ thống trang thiết bị tin học; Kiểm toán chế độ kiểm soát truy cập; Kiểm toán an toàn mạng máy tính NHNN; Kiểm toán việc sao lưu, khôi phục dữ liệu điện tử; Kiểm toán hệ thống dự phòng; Kiểm toán việc thực hiện quy định về chữ ký số; Kiểm toán việc sử dụng các phần mềm nghiệp vụ; Kiểm toán phát triển, gia công, mua sắm phần mềm ứng dụng; Kiểm toán hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hệ thống CNTT; Phúc tra việc thực hiện các kiến nghị kiểm toán.
Phạm vi kiểm toán có thể toàn bộ các nội dung kiểm toán hướng dẫn tại quy trình này. Trên cơ sở đánh giá rủi ro hệ thống CNTT trong từng thời kỳ đối với các đơn vị để xác định phạm vi kiểm toán, trong đó tập trung vào các nội dung được đánh giá có mức độ rủi ro cao. Phạm vi của cuộc kiểm toán được xác định trong đề cương kiểm toán được Thống đốc NHNN phê duyệt.

Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2012

Hạ lãi suất cho vay về 15%: Đâu là sự thật?

 
NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng đưa lãi suất cho vay về 15%/năm. Nhiều ngân hàng công bố đã thực hiện, nhưng doanh nghiệp vẫn kêu không thấy đâu. Vậy sự thật ở đâu?

                         <<  Ngân hàng habubank phát triển mạnh  >>


Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thống đốc NHNN tại Thông báo số 198/TB-NHNN ngày 9/7/2012, các tổ chức tín dụng đã đánh giá, rà soát dư nợ các khoản cho vay cũ để xem xét điều chỉnh giảm lãi suất về mức tối đa 15%/năm từ ngày 15/7/2012.

Ai cũng có lý?

Nhiều NHTM như BIDV, Vietcombank, Techcombank, VPBank tuyên bố không chỉ giảm lãi suất đối với các khoản cho vay cũ mà còn dành nhiều gói tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp: Sài Gòn Thương Tín triển khai gói tín dụng 2.000 tỷ đồng với mức lãi suất 13%/năm đối với khách hàng doanh nghiệp. DongABank đã cho vay khoảng 40 tỷ đồng với lãi suất 12-13%/năm. VIB cũng đăng ký tài trợ 1.500 tỷ đồng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ… Nhưng nói là một chuyện, thực hiện là chuyện khó hơn! Nhiều doanh nghiệp kêu lãi suất vẫn trên mức 15%/năm, thậm chí vẫn có doanh nghiệp phải vay với lãi suất trên dưới 20%/năm. Người vay kêu là đúng. Với mức lãi suất cao như vậy, sản xuất kinh doanh gì cho có lợi nhuận cao mà trả lãi vay ngân hàng!

Nhưng với mấy trăm ngàn doanh nghiệp, đại đa số đều vay vốn ngân hàng làm nguồn vốn chủ yếu, thì một vài doanh nghiệp kêu, hay có cả trăm doanh nghiệp "la" lãi suất cao, vẫn cứ là... thiểu số. Đó là xét về mặt số học. Nhưng công bằng mà nói, dù ít hay nhiều doanh nghiệp kêu lãi suất cao, vẫn phải xem đó là những doanh nghiệp nào? Tại sao? Nói như Thống đốc Nguyễn Văn Bình: "Với các doanh nghiệp, dù có qua khỏi giai đoạn này, nhưng tương lai dự báo rất khó khăn và không có cơ hội phát triển dài hạn thì hệ thống ngân hàng cũng kiên quyết làm sao để có thể loại trừ doanh nghiệp đó. Tìm biện pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp nhưng không phải bằng mọi giá và cứu mọi doanh nghiệp". Thống đốc nói có lý. Nhưng thế nào là doanh nghiệp có thể bị loại trừ? Mỗi ngân hàng đều xây dựng bộ tiêu chí đánh giá, xếp loại khách hàng. Trong bối cảnh môi trường kinh doanh khó khăn như hiện nay, nhiều doanh nghiệp sẽ không đáp ứng đủ tiêu chí cho vay của ngân hàng nữa (nợ quá hạn, thiếu tài sản thế chấp; hoặc giá trị tài sản thế chấp không đủ do bất động sản đang mất giá...). Vì vậy, nếu để các NHTM tự xem xét, đánh giá thì tất yếu số doanh nghiệp đủ điều kiện "không để cho chết" sẽ rất ít. Đó là chưa kể việc hạ lãi suất về 15%/năm theo điều kiện của NHTM, vô hình trung làm nảy sinh thêm nhiều tiêu cực vì cơ chế gần như kiểu xin - cho.

Ngân hàng giữ thế thủ

Doanh nghiệp muốn được cứu, nhưng ngân hàng cũng không muốn chết theo doanh nghiệp. Vì thế, hành xử tất yếu của nhiều NHTM là "ốc không mang nổi mình ốc, làm sao mang cọc cho rêu". Không phải bỗng dưng NHNN tổ chức hẳn cuộc họp báo về nợ xấu ngân hàng - điều chưa từng xảy ra trong suốt lịch sử hơn 60 năm của ngành ngân hàng. Nợ xấu đang chiếm 8,6% (khoảng 2,6 triệu tỷ đồng) tổng dư nợ toàn ngành. Không ai dám chắc con số này sẽ dừng ở đây, nếu không muốn nói là sẽ còn nhiều hơn. NHNN công khai nợ xấu, cũng là tìm sự ủng hộ trong chính sách xử lý nợ xấu sắp tới.

Về phía mình, các NHTM biết rõ nhất nợ xấu của họ đang ở mức nào, sẽ tăng đến đâu. Đây chính là lý do khiến họ giữ thế thủ hiện nay. Nguồn thu chính của ngân hàng là từ tín dụng. Bản thân ngân hàng rất muốn tăng cung tín dụng, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận. Nhưng trong bối cảnh môi trường kinh doanh nhiều khó khăn, chính sách liên tục thay đổi, sẽ là mạo hiểm nếu ngân hàng cứ bung ra. Đây chính là lý do ngân hàng giảm lãi suất có chọn lọc. Techcombank khẳng định, họ giảm lãi suất "căn cứ trên hệ thống xếp hạng tín nhiệm khách hàng và tình hình sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp; tập trung ưu tiên giảm lãi suất cho các khách hàng doanh nghiệp thân thiết...".

Như vậy, có thể tạm chia doanh nghiệp - những người đã, sắp vay vốn ngân hàng thành các nhóm: nhóm khách hàng thân thiết - được hưởng tối đa những ưu đãi của ngân hàng (nhóm khách hàng mà kiểu gì ngân hàng cũng muốn giữ lại). Nhóm khách hàng đang có quan hệ tín dụng, có khả năng trả nợ: được giảm lãi suất theo yêu cầu của NHNN; xem xét cho vay mới tùy theo điều kiện của ngân hàng. Nhóm khách hàng chấp nhận được mức lãi suất cho vay cao (thường ngân hàng chỉ cho vay ngắn hạn với đánh giá sát sao về độ rủi ro); và nhóm khách hàng để "cho chết" hoặc ngân hàng không muốn mạo hiểm cho vay. Tùy từng điều kiện, chủ trương của mình, các NHTM sẽ điều chỉnh tỷ lệ dư nợ cho vay của các nhóm khách hàng để đảm bảo an toàn, hiệu quả. Nhất là một loạt các NHTM vừa có CEO mới - họ sẽ càng tuân thủ yêu cầu: an toàn rồi mới hiệu quả.

Tuy nhiên, vấn đề mấu chốt của sự phân nhóm mang tính tương đối trên lại là ở sự minh bạch thông tin! Tại sao NHNN yêu cầu tổ chức tín dụng đưa lãi suất cho vay về mức 15%/năm? Nếu xét trên mức lãi suất huy động phổ biến hiện nay là 9%/năm, cộng thêm các chi phí vốn khác (2%) thì mức lãi suất cho vay 15% vẫn là cao. Vì chênh lệch lãi suất đầu vào - ra ở mức 2 đến 2,5%/năm là hợp lý. Nhưng thực tế chi phí lãi suất đầu vào của một số ngân hàng hiện không ở mức 11%/năm do phải thực hiện các chiêu thức cạnh tranh trong huy động vốn. Mặt khác, lãnh đạo nhiều NHTM cho rằng, với môi trường kinh doanh khó khăn, chính sách lại liên tục thay đổi, việc giãn rộng biên độ lãi suất là hợp lý. Vì thế, có khách hàng được vay với lãi suất chỉ 12%/năm; nhưng có khách hàng phải vay đến 18%/năm. Mức chênh lệch quá lớn về lãi suất cho vay giữa các nhóm khách hàng chính là vấn đề gây nhiều tranh cãi trong nội bộ các NHTM hiện nay. Và NHTM cũng sẽ khó giải trình với NHNN nguyên nhân thực tế của việc chi phí vốn cao (như vậy là tự thú việc không chấp hành quy định về huy động vốn của NHNN) dẫn đến số khách hàng được giảm lãi suất về 15% còn khiêm tốn.


Về phía các doanh nghiệp, công bằng mà nói, ngân hàng muốn cho doanh nghiệp vay, nhưng họ rất sợ rủi ro, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay. Các doanh nghiệp Việt Nam có đặc điểm chung là thường có qui mô nhỏ và rất nhỏ; hoạt động chủ yếu nhờ vốn vay; có nhiều hệ thống sổ sách kế toán cho các "đối tượng" khác nhau. Chính sự không minh bạch thông tin, sổ sách kế toán của doanh nghiệp khiến ngân hàng rất ngại cho vay. Giá vốn cao chính là ở đây. NHNN linh hoạt trong điều hành chính sách; NHTM "nhanh nhạy" trong thực thi chính sách; còn doanh nghiệp thì thạo "chế biến" các con số, dự án… Tổng hòa của sự thiếu minh bạch là thiếu sự tin tưởng lẫn nhau. Kết quả tất yếu là "giá" của sự thiếu minh bạch đã cao ngày càng cao!

Thứ Sáu, 13 tháng 7, 2012

Nhận tiền người thân - Cùng nhân quà tặng

Từ ngày 16/7-16/10/2012, Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam (BIDV) triển khai chương trình khuyến mại tặng quà đến các khách hàng thực hiện giao dịch nhận tiền kiều hối qua kênh ngân hàng và nhận tiền nhanh Western Union (WU) tại 200 Điểm giao dịch của BIDV.

                         <<  Ngân hàng Habubank tự tin xóa nợ  >>

18.000 phần quà hấp dẫn sẽ được dành tặng cho các khách hàng giao dịch nhận WU tại các điểm chi trả BIDV-WU hoặc các khách hàng nhận tiền kiều hối qua kênh ngân hàng đại lý và kiều hối theo hợp đồng qua các kênh Korea Exchange Bank - KEB (Hàn Quốc), Metro Bank (Đài Loan), VID Public Bank (Malaysia), Hanabank - Pay Easy Service (Hàn Quốc), AFX - Fast Remit (Qatar) và Tachong Bank (Đài Loan) tại các Điểm giao dịch/Phòng giao dịch của BIDV.

Chuyển tiền kiều hối qua BIDV là dịch vụ dành cho người Việt nam ở nước ngoài (Việt kiều, người lao động, cô dâu, du học sinh…) gửi tiền về cho thân nhân, gia đình. 
Dịch vụ chuyển tiền kiều hối và WU của BIDV phong phú, đa dạng sẽ đem lại sự an toàn, tin cậy cho các khách hàng. Hãy đến với BIDV thực hiện các giao dịch nhận tiền kiều hối và WU để được phục vụ một các chuyên nghiệp, tận tình và nhận những món quà xinh xắn tiện ích.
 

Thứ Ba, 10 tháng 7, 2012

Giảm lãi suất nợ cũ: Đâu phải ai muốn cũng được

Cuối cùng, một đòi hỏi bức thiết của DN sản xuất kinh doanh là “được giảm lãi suất cho những món nợ cũ” đã được giới ngân hàng đáp ứng... 


                         <<  Ngân hàng Habubank tự tin xóa nợ  >>
 

...sau khi Thống đốc NHNN yêu cầu từ ngày 15/7/2012 các NHTM phải có quyết định hạ lãi suất các món vay cũ xuống dưới 15%/năm.
Chờ đợi và hoài nghi

Tuy nhiên, làm sao để cộng đồng DN hưởng được ưu đãi này cũng là chuyện không đơn giản… Bởi có một điều chắc chắn, ngân hàng sẽ không giảm vô điều kiện. Vì thế, không phải DN nào muốn cũng được giảm lãi suất nợ cũ.

Qua tìm hiểu một số NHTM, chúng tôi được biết dù sẵn sàng tuân thủ theo yêu cầu của NHNN để tiến tới thực hiện vấn đề này, giới ngân hàng vẫn bắt buộc phải tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản: ngân hàng không thể miễn giảm lãi suất đối với những doanh nghiệp (DN) đang nợ quá hạn, tài sản thế chấp không đảm bảo tính pháp lý.

Hơn thế, để có thể giảm các món nợ cũ về mức dưới 15%/năm, sắp tới ngân hàng sẽ phải cắt giảm chi phí vận hành, chi phí vốn, tìm cách tăng thu nhập từ dịch vụ… Đó là chưa kể tới một nguyên do cơ bản nhưng vì “tế nhị” nên các NHTM ít đề cập đến: đối với các món vay cũ, bản thân ngân hàng cũng phải huy động với lãi suất cao (có khi trên cả 15%/năm) nay cho hạ lãi suất dưới 15% thì ai bù lỗ cho họ?

Ông Nguyễn Việt Hải, giám đốc một công ty chuyên về ngành xây dựng, có trụ sở tại quận Đống Đa (Hà Nội) cho biết: sau khi có thông tin này, đơn vị đã điện xuống hỏi một số NHTM nhưng được phản hồi là cần phải đợi!

Nhưng ông không tin rằng các món nợ cũ của đơn vị lại được hưởng lãi suất về dưới 15%/năm khi bản thân các món vay mới của công ty ông trong thời gian gần đây vẫn phải chịu mức lãi suất ngất ngưởng là 18,5%/năm. Tuy nhiên, ông Hải thắc mắc: Ai chẳng biết trước đây các NHTM cũng phải huy động vốn với lãi suất cao để cho vay cao, nhưng mấy tháng nay lãi suất huy động đã lùi về mức thấp (9%), việc giảm lãi suất cho các món vay mới và cũ cũng là điều hoàn toàn nằm trong khả năng có thể của các ngân hàng thương mại...


Trong khi đó, ông Trịnh Ngọc Sơn – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty CPTM Nghệ An cho biết: “Đây là một thông tin đáng phấn khởi cho cộng đồng DN trong bối cảnh hiện nay bởi với việc giảm lãi suất cho vay cho các khoản nợ cũ đương nhiên sẽ giúp DN giảm chi phí để trả nợ các món cũ và vay món mới để sản xuất kinh doanh”.

Đơn vị của ông Sơn thường chỉ vay các khoản vốn ngắn hạn và trả ngay sau khi hoàn thành các thương vụ mua bán nên hầu như không có khoản nợ cũ nào. Tuy không trực tiếp được hưởng lợi từ chính sách mới của ngân hàng nhưng theo ông Sơn, về gián tiếp đơn vị cũng được hưởng lợi từ các đối tác làm ăn với đơn vị, hay các DN vệ tinh cung ứng hàng hóa phân phối sản phẩm. Các đơn vị này được giảm gánh nặng lãi suất đương nhiên cũng sẽ tạo ra những hiệu ứng tích cực đối với công ty trong thanh toán hàng hóa, tránh được tình trạng ứ đọng vốn trong lưu thông, sản xuất…